Hồ Nguyên Trừng
Học thuậtThân thiện
Định nghĩa
- Danh từ riêng:
- Tên một nhân vật lịch sử Việt Nam cuối thời Trần, đầu thời Hồ: Hồ Nguyên Trừng là con trai cả của Hồ Quý Ly, anh trai của Hồ Hán Thương. Ông từng giữ các chức vụ quan trọng như Tư đồ dưới triều Trần và Tả tướng quốc dưới triều nhà Hồ.
- Tác giả của "Nam Ông mộng lục": Ông là người biên soạn tác phẩm văn học sử có giá trị, ghi chép lại các nhân vật và sự kiện đáng khen của dân tộc.
- Nhà kỹ thuật, người được cho là có công chế tạo súng thần công: Trong thời gian bị lưu đày ở Trung Quốc, ông đã có đóng góp quan trọng về kỹ thuật quân sự.
Ví dụ sử dụng
- Danh từ riêng:
- Hồ Nguyên Trừng từng có ý nhường ngôi cho em trai là Hồ Hán Thương.
- Cuốn "Nam Ông mộng lục" do Hồ Nguyên Trừng biên soạn là một nguồn tư liệu quý cho việc nghiên cứu lịch sử, văn học thời Lý - Trần.
- Một số sử liệu ghi nhận công lao của Hồ Nguyên Trừng trong việc chế tạo và cải tiến súng thần công.
Các cách sử dụng nâng cao
"Tâm trạng Hồ Nguyên Trừng": Cụm từ này thường được dùng để chỉ nỗi niềm hoài cổ, nỗi đau mất nước và tâm sự kẻ sĩ tha hương được gửi gắm qua tác phẩm "Nam Ông mộng lục".
- Qua "Nam Ông mộng lục", ta có thể cảm nhận được phần nào tâm trạng Hồ Nguyên Trừng khi sống trong cảnh lưu đày.
"Bi kịch của Hồ Nguyên Trừng": Chỉ về cuộc đời đầy biến cố của ông, từ một vị tướng quốc trở thành tù binh, phải sống và cống hiến tài năng cho nước ngoài.
- Cuộc đời Hồ Nguyên Trừng là một bi kịch lịch sử điển hình của trí thức Việt Nam trong bối cảnh đất nước bị xâm lăng.
Biến thể và từ liên quan
- Lê Trừng: Tên mà Hồ Nguyên Trừng buộc phải đổi sang theo lệnh của vua Minh khi sống lưu vong ở Trung Quốc.
- Nam Ông: Hiệu của Hồ Nguyên Trừng, được dùng làm tên cho tác phẩm "Nam Ông mộng lục".
- Hồ Quý Ly: Phụ thân của Hồ Nguyên Trừng.
- Hồ Hán Thương: Em trai của Hồ Nguyên Trừng.
Từ đồng nghĩa / Cách gọi khác
- Tả tướng quốc Hồ Trừng: Gọi theo chức vụ cao nhất của ông dưới triều nhà Hồ.
- Tác giả "Nam Ông mộng lục": Gọi theo danh tiếng từ công trình văn học để đời của ông.
Thành ngữ / Điển tích liên quan
- "Trời thì che, đất thì chở, / Anh em người sao chẳng niềm nở": Lời răn của Hồ Quý Ly đối với Hồ Nguyên Trừng và Hồ Hán Thương về tình anh em, được chép trong sử sách, gắn liền với câu chuyện về mối quan hệ giữa hai anh em ông.
- "Chuyện thiện tôi rất mê nghe...": Lời tự bạch của Hồ Nguyên Trừng trong bài tựa "Nam Ông mộng lục", thể hiện quan điểm và tâm huyết của ông khi biên soạn sách - chỉ ghi chép những điều tốt đẹp, đáng lưu truyền.
- Thái tử, con cả Hồ Quí Li, anh Hồ Hán Thương, không rõ năm sinh, năm mất, tự là Mạnh Nguyên, hiệu Nam Ông
- Chính ông có ý nhường ngôi cho em, nhưng anh em vẫn có điều bất hòa. Hồ Quí Li thường khuyên anh em ông:
- "Thiên giả phú, địa giả tải,
- Huynh đệ nhị nhân như hà bất tương ái?
- Ô hô! ai tai hề ca khảng khái"
- Dịch:
- Trời thì che, đất thì chở,
- Anh em người sao chẳng niềm nở
- Ô hô! xót thay chù lời ca trăn trở!
- (Vì biết chuyện và đem lời răn trên đây truyền cho thiên hạ biết, viên cận thần Nguyễn Ông Kiều bị Quí Li giết)
- Về trước, khi phụ thân ông lật đổ nhà Trần, dưới triều Trần Thuận đế, ông phụ trách Thượng Lân tự-một quan thự chuyên xét xử việc ngục tụng mà các đời trước gọi là Viện Đăng văn kiểm pháp. Năm Kỷ mão 1399, đời Trần Thiếu đế, ông giữ chức Tư đồ
- Nhà Hồ dựng lên, ông giữ chức Tả tướng quốc. Mặc dù bề ngoài tỏ ý thần phục nhà Minh, nhưng ông, cha và em ông vẫn nghĩ cách chống đối, củng cố chủ quyền độc lập. Thời thế không thuận lợi, rốt lại đến ngày 12-5 âm lịch, Đinh hợi 1407, cả ba cha con ông và người cháu là Hồ Nhuế (con Hồ Hán Thương) đều bị quân Minh bắt giải về Kim Lăng (Nam Kinh, Trung Quốc)
- Minh Anh tông dùng ông giữ chức Tả thị lang bộ Công, Chính nghị đại phu tư trị doãn. Lại nữa, vua Minh không thừa nhận gia đình ông là dòng dõi Ngu Thuấn, bắt phải đổi họ khác, ông đổi lại là Lê Trừng
- Sống cảnh lưu đày ở nước ngoài, ông có sáng chế súng thần công, loại trọng pháo khiến Trung Quốc được tiếng là phát minh khí giới chiến tranh
- Ông cũng soạn quyển Nam Ông mộng lục, gồm 19 tờ, 31 tiểu phẩm. Sách có gía trị phần nào để bổ sung cho văn học và sử học đời Lí - Trần: Tâm trạng ông vẫn gói gém ít nhiều vào đấy, nói tốt cho các nhân vật đáng khen ngợi của dân tộc ta
- Bài tựa Nam Ông mộng lục do chính ông đề ra, như sau (Bản dịch): Sách luận ngữ từng nói: "Trong cái xóm mười nhà, thế nào cũng có người trung tín như Khâu này vậy", huống hồ nhân vật cõi Nam Giao từ xưa đã đông đúc, lẽ nào vì nơi hẻo lánh mà vội cho là không có nhân tài! Trong lời nói, việc làm, trong tài năng của người xưa có nhiều điều khả thủ, chỉ vì qua cơn binh lửa, sách vở cháy sạch, thành ra những điều đó bị mất mát cả, không còn được ai nghe, há chẳng đáng tiếc lắm sao? Nghĩ tới điểm này, tôi thường tìm ghi những việc cũ, nhưng thấy mất mát gần hết, trong trăm phần chỉ còn một hai bèn góp lại thành một tập sách đặt tên là Nam Ông mộng lục, phòng khi có người đọc tới! Một là để biểu dương các mẫu việc thiện của người xưa, hai là để cung cấp điều mới lạ cho người quân tử, tuy đóng khung trong vòng chuyện vặt, nhưng cũng là để góp vui cho những chuyện vui
- "Có kẻ hỏi tôi rằng: "Những người ông chép đều là người thiện, vậy thì trong các truyện bình sinh ông nghe thấy, lại chẳng có truyện nào bất thiện ư?" Tôi trả lời họ rằng: "Chuyện thiện tôi rất mê nghe, nên có thể nhớ được, còn chuyện bất thiện thì không phải là không có, chẳng qua tôi không nhớ đấy thôi". Họ lại hỏi: "Sách lấy tên là mộng, ý nghĩa ở chỗ nào?" Tôi trả lời: "Nhân vật trong sách, xưa kia rất phong phú, chỉ vì đời thay đổi, dấu tích hầu như không để lại, thành ra còn mỗi một mình tôi biết chuyện và kể lại mà thôi, thế không phải mộng là gì? Các bậc đại nhân quân tử có thấu cho chăng? Còn hai tiếng Nam Ông thì chính tên có chữ, của Trừng tôi vậy."